Huế Tháng Năm

Buổi về Huế nắng ngẩn ngơ
Cải tâm tiền sử bơ vơ cội nguồn
Ngó ra tôi vẫn còn thương
Đêm căn nhà cũ mùi hương mẹ già
Sân ngoài quạnh vắng bóng cha
Bây giờ hiên ấy chỉ tà huy thôi

Tuổi thơ cũng lạc mất rồi
Chổ nằm một thuở đã trôi theo đời
Buổi về hết đứng lại ngồi
Trái tim thất thập bồi hồi nhân-gian

Cung Nguyên Hải Đọc tiếp »

Hai Phương Lặng Lẽ Vẫn Là Tri Âm

gởi bác Tư, Saigon

Khi ngồi ngó xuống bàn tay
Đường qua chỉ lại, mới hay mình già
Hồ trường thuở ấy cuồng ca
Nay thân gổ mục trầm kha cõi người

Nhớ ngày phố thị nổi trôi
Chén tôi, chén bác, chén bồi hồi ta
Bây giờ tôi bác ở xa
Hai phương lặng lẽ vẫn là tri âm

Thôi thì ta uống thinh không
Uống thời lãng đãng còn trong hồn mình
Thôi thì ta uống điêu-linh
Uống ngày cố cựu xuân xanh gọi về

Cung Nguyên Hải
Tháng 12, 2013
Đọc tiếp »

Cuồng Tửu, Thơ Đùa

Trong lần hội ngộ 09/2012 ở xứ Vạn Hồ của một số đồng hương La Khê,Cung Nguyên Hải, chủ nhân Vườn Hạnh Ngộ đã đành lòng không "rút kiếm." Hiện tượng nầy vô tình đã đưa đến một "cuồng tửu, thơ đùa" thật hồn nhiên, hồn nhiên như màu rượu trắng ở quê mình.

Phan Nhị Long gây sự:

Nếu một mai ở Vạn Hồ luận kiếm
Hạnh đại hiệp đủ sức tiến tới bờ không??
Colorado trên đỉnh Hoa Sơn, mãi chờ trông,
Virginia túy lúy, còn mong chi đường tới!

Cung Nguyên Hải:
Colorado chưa phải là đối thủ,
Một khi mà Hạnh đại hiệp ra chiêu!
Người Denver chỉ giỏi uống thuốc liều,
Kẻ đáng sợ, e rằng nơi Fairfax.

Phan Nhi Long:
Kiếm Fairfax luyện nhiều nhưng chưa sắc,
Thì mần răng chặt nổi kiếm Denver!
Hạnh đại hiệp chỉ còn đủ sức làm thơ,
Tiểu đệ sợ đại ca mắt mờ khi xuất chưởng...

Cung Nguyên Hải:
Đừng khích tướng, gặp nhau rồi sẽ biết
Chấp Vạn hồ "back up" với Denver
Tay cầm ly, tay cầm bút làm thơ
E chỉ sợ xứ Vạn Hồ thiếu rươu!

Phan Nhi Long:
Rượu như nước Vạn Hồ làm sao thiếu,
Chỉ e người sức yếu thấy mà say,
Sau cuộc cờ ai sẽ trắng hai tay
Tàn cuộc chiến biết ngay ai còn đứng!

Cung Nguyên Hải:
Nước Vạn Hồ không sâu bằng biển rộng,
Người Cali tát cạn dễ dàng thôi,
Chàng Nhị Long tiếc của, dạ bồi hồi,
Thôi chẳng dại, lần sau không mời nữa!

Phan Nhị Long:
Nước Vạn Hồ cho dù sâu hay cạn,
Xứ lạnh tình nồng, hào sảng lắm anh ơi
Rượu trà đã sẵn-sàng mời,
Say tình hội ngộ, quên đời lưu vong,

Chín mươi pounds, rượu vào sao đứng nổi,
Cali ơi, có chịu được gíó Vạn Hồ
Ngươì Denver thì chẳng ngán chi mô,
Vẫn đứng vững bên Vạn Hồ gió lộng ...

Ngày xưa anh thật anh hùng!
Bây giờ kiếm gãy, gươm cùn còn đâu
Anh qua quan ải đã lâu,
Bây giờ qua lại, biết đâu đường về!

CungNguyên Hải:
Chín mươi pounds là của người Fairfax,
Tại hạ nầy trăm bốn chục còn dư,
Tứ đệ ơi, xin đừng quá ưu tư
Gió Vạn Hồ chẳng làm chi ta nổi.
Ta cũng biết năm rồi ta có lỗi,
Đến Vạn Hồ mà chẳng rút kiếm ra
Thôi hẹn đến tháng 5 ở quê nhà
Đệ sẽ thấy những đường gươm "Hạnh Ngộ"
Đệ sẽ thấy gió "Rừng Phong" run sợ,
Đá Denver rồi cũng phải chau mày,
Kiếm chưa cùn như đệ tưởng lâu nay,
Gươm vẫn bén cho Nhị Long ngơ ngẩn.

Phan Nhị Long:
Chín mươi pounds, hay một trăm bốn chục
Huynh-đài nào cũng ngã gục mà thôi
Đá Denver dựng đứng giữa đất trời
Lần hội ngộ vừa rồi ai cũng biết
Tuổi tuy già nhưng vẫn còn tuấn kiệt,
Chiêu XO la liệt cả quần hung...

Đến Vạn Hồ, sao huynh đài không rút kiếm
Thì mần răng giữ được tiếng Kiều Phong
Thôi từ nay đóng cửa luyện công
Ngày hội ngộ mới mong tranh hung nổi.

Tháng 5 cố quận ngày về
Đại ca có giữ vẹn thề được không!
Bên Thanh đã có Lững kề
Huynh-đài lại có Tuyết Lê đi kèm,
Mắt hình viên đạn Nga nhìn,
Tam trà tứ tửu một mình đệ say,
Chao ôi, đệ sợ kiểu này...

Chưởng thơ, đỡ nặng không ngờ,
Có cầu Thanh đệ mà nhờ một tay,
Xa luân trận chiến cũng hay,
Nhưng non công lực có ngày hao quân.

Cung Nguyên Hải:
Không rút kiếm,bởi lòng ta muốn nhịn,
Một đôi lần cho Sư trưởng được vui,
Cho Denver bớt được chút bùi ngùi,
Vì chiến bại lâu nay không đếm xuể,
Đã đủ lễ, nên không còn vị nể
Chiêu XO ta chẳng ngán chút nào
Đế quê hương và nhứt tửu hồng mao,
Ba thứ ấy, Denver rồi ngủ sớm!

Xa luân chiến, đời ta không nghĩ tới
Bởi bao năm lăn lộn chốn giang hồ,
Vẫn một mình với đơn kiếm, chưởng thơ,
Làm gục ngã biết bao nhiêu hào kiệt.

Phan Nhi Long:
Sư trưởng ơi, làm sao tin được,
Xa nhau rồi, lên nước nói nhịn nhau
Khoe khoang bạch tửu, hồng mao,
Hạ uy sư trưởng, đệ nào tin đâu.
Cali danh trấn đã lâu,
Từ lần hội đó như bầu đứt dây
Cuộc cờ xe mã còn đâu! Làm sao phục chúng, danh đầu Cali
Huynh đài đừng gượng mà chi
Lỡ mà tẩu hỏa, chài chì mất luôn.

Cung Nguyên Hải:
Nhị Long hề! thôi cứ về biển rộng,
Đừng băn khoăn chi nữa chuyện Denver,
Hãy yên tâm mà trau chuốt hồn thơ,
Nàng Minh Hải đang chờ tô mắt phượng,
Tình của đệ, dành cho người sư trưởng
Khiến lòng huynh phải cảm động vô cùng
Thêm một lần nhường nhịn nữa cho xong!
Không rút kiếm làm vô chiêu hội ngộ.

Phan Nhị Long:
Thơ đùa, đâu chẳng bận lòng chi
Tìm trong tri kỷ, tình đầy rượu vơi
Miễn chiến bài, đã treo rồi
Đệ xin huynh xá, những lời lộng ngôn.
"Mua vui cũng được một vài trống canh"
Cung Nguyên Hải & Phan Nhị Long
Tháng 9/2013

Đọc tiếp »

Trả Lại Mùa Thu

gởi Phạm Lê Kha

Tôi một mình đứng vẫy gọi mùa thu,
Mà đâu biết thu đang về với gió,
Đang trở lại trên màu hoa cúc nở,
Đang hững hờ lãnh đạm với trời mây!

Tôi một mình nói chuyện với rừng cây,
Mà đâu biết lá không còn ở đó,
Tôi đâu biết nắng thôi cười hớn hở,
Và trăng cao hiu quạnh bóng quê nhà!

Tôi một mình đứng hát điệu thu ca,
Mà đâu biết đường tơ chùng lạc điệu,
Câu thơ viết ngậm ngùi bên kia núi,
Buổi chiều rơi vang vọng tiếng sương mù.

Tôi một mình gởi trả bạn mùa thu,
Trời bên ấy chắc xanh màu ảo-diệu,
Con hói cũ có còn bèo xanh biếc?
Hay hoang-du hồng thủy lạc xa bờ?

Cung Nguyên Hải
tháng 9/ 2013 Đọc tiếp »

Tháng Tư Hoa Quỳnh Nở

Cung Nguyên Hải




Tháng tư hoa quỳnh nở,
Huynh đệ chẳng ai về
Thoáng chút buồn cổ độ
Nhạt nhòa nẻo sơn khê.

Tháng tư hoa quỳnh nở,
Bạn bè vẫn tới lui
Chia nhau từng trăn trở
Rượu rót với bùi ngùi.

Tháng tư ngồi nhớ núi,
Bảy mươi bạc hết đầu
Sao ta già quá vội
Có phải vì cơn đau.
Ta đau hình hài Mẹ
U-uẩn hồn phương Cha
Phân-vân tình nhân-thế
Lặng lẽ biệt quê nhà.
Đọc tiếp »

Đôi Điều Về Một Người Bạn

Cung Nguyên Hải

Lời tác giả: Tôi may mắn được sinh ra từ một làng quê có những tấm lòng nhân hậu, những con người nghị lực, và những kẻ có lòng. Tuy họ không nhiều, nhưng đã tiếp nối nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác và đủ để đem đến cho làng quê một nét đẹp nhân bản và cho riêng tôi một tấm lòng ngưỡng mộ. Trong số này, có một người bạn cùng thời với tôi: Anh Phạm Hiển ...

Tôi và Phạm Hiển tuy ở cùng làng, cùng xóm, hai nhà cách nhau khoảng 100m, nhưng chúng tôi không quen thân với nhau nhiều mãi cho đến những năm từ 1995 về sau. Lý do là vì năm 1956, khi tôi theo cha mẹ từ Mang Cá về định cư lại ở làng quê thì tôi theo học lớp nhì (lớp 4 bây giờ) trường tiểu học Hương Trà vừa mới xây hoàn thành ở giữa hai làng Bao Vinh và Thế Lại Thượng ở cách nhà khoảng 2km, còn Phạm Hiển học lớp tư (lớp 2 bây giờ) ở trường tiểu học Hương Cần, chi nhánh đặt ngay tại trong làng La Khê. Năm 1959, Hiển đậu vào lớp Đệ Thất trường Hàm Nghi trong Thành Nội thì tôi đang học Đệ Ngũ cũng trường này và năm 1963 khi Hiển vào Đệ Tam trường Quốc Học thì tôi đang học năm cuối.

Hai đứa học trò có vẻ đuổi bắt như vậy, nên đã chỉ biết nhau, thỉnh thoảng gặp nhau đây đó, nhưng chơi và thân với nhau thì chưa. Năm 1965 tôi vào Sài Gòn học Đại Học Hành Chánh thì Hiển vẫn ở Huế theo học Trường Cán Sự Y Tế. Hai đứa đã vào đời theo hai hướng khác nhau. Cuối năm 1968, sau khi tốt nghiệp, tôi làm việc, lập gia đình và yên ổn sinh sống tại thành phố Sài Gòn kể cả sau biến cố đổi đời 30/4/1975, cho đến mùa hạ 1990 được đi Mỹ. Còn Hiển long đong hơn nhiều. Hiển tốt nghiệp thủ khoa Cán Sự Y Tế năm 1967 để mở đầu cho một quãng đời đầy biến động, lắm đổi thay và gian khổ. Giữ chức vụ Trưởng Phòng Mổ Bệnh Viện Quảng Trị khoảng một năm, anh bị động viên khóa 2/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, sau đó phục vụ dưới màu áo Địa Phương Quân Tiểu Khu Quảng Trị cho đến 1971. Từ 1972 chuyển về làm Sĩ Quan Trơ Y tại Phú Bài, Huế. Là một học sinh xuất sắc của Hàm Nghi và Quốc Học trước đây, dù phải vào đời do hoàn cảnh, anh vẫn giữ được ý chí ham học, nghị lực vươn lên nên đến 1974 anh đã tốt nghiệp Tú Tài 2 và theo học tại Đại Học Văn Khoa Huế. Năm 1975 học tập cải tạo tại Đà Nẳng. Năm 1977 phải đi vùng kinh tế mới Darlac. Từ 1978 đến 1986 lại phiêu bạt về vùng biển mặn Rạch Giá, Kiên Giang. Thời gian từ 1987 đến 1990 sinh sống ở Buôn Mê Thuột và từ 1991 anh mới trở về định cư lâu dài ở quê ngoại La Khê.

Đọc tiếp »

Cung Nguyên Hải - Mừng Hai Cus Tròn 2 Tuổi

Gởi Tuấn Kiệt, Phú Hòa

Cus đã đến với đời, cất giọng hót
Góp lời vui cho đẹp những mong chờ
Để ngoại già thêm được một bài thơ
Mừng cu Kiệt, cu Hòa hai tuổi lớn

Đọc tiếp »

Cung Nguyên Hải - Chuyện Chúng Mình Ăn Tết Ở Quê Hương

Gởi Tuyết Lê

Đường Bao Vinh vẫn rộn ràng sông nước
Nắng Địa Linh hờ hững những tàn phai
Chiều La Khê đồng vọng tiếng chuông dài
Căn nhà cũ đã không còn thấy mẹ

Ta lỡ hẹn đôi lần ăn Tết Huế
Với song đường giờ khuất nẻo trời xa
Nợ áo cơm lần lữa tháng ngày qua
Nay đã trễ chẳng còn ai ở đó

Đọc tiếp »

Cung Nguyên Hải - San Diego, Đầu Thu Hoài Cảm

Ao sen cá lặn mất rồi
Quýt vàng, chanh rụng, nhớ người đồng hương
Ti-gôn đã nở sau vườn
San-thành vẫn đợi viễn phương ghé về

Đầu Thu 2011
Cung Nguyên Hải

Đọc tiếp »

Cung Nguyên Hải - Nói Với Rừng Phong

Sẽ trở lại Rừng Phong thêm lần nữa
Bởi nặng tình bên đó với bên đây
Ba thế hệ, dẫu đường xa chi mấy
Sẽ cùng nhau, hò hẹn buổi đoàn viên

Rừng Phong ơi hãy khoan đừng thay lá,
Đợi ta về mang chút nắng trời Tây
Đợi ta về với chút gió heo may
Rừng sễ đẹp hơn những mùa thu cũ

Đọc tiếp »

Cung Nguyên Hải - Thư San Diego (19/9/2009)

San Diego ngày 19 tháng 9 năm 2009.


Bạn Phạm LK thân mến,

Tháng 9, tháng của mùa thu trở về, tháng của những cơn mưa lụt đầu mùa mấp mé ở làng quê, tháng của những cánh rừng phong bắt đầu thay lá trên khắp miền Đông nước Mỹ, và nhất là tháng của những hoài niệm về một ký ức mãi mãi không quên từ nhà văn Thanh Tịnh: "... Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp ...".  Cũng trong tháng 9 này, một số đồng hương xa quê bỗng dưng có một thôi thúc muốn được tìm nhau. Thế là, dù không có nhiều thời gian để chuẩn bị, và dù chỉ là trong mấy ngày cuối tuần ngắn ngủi, họ đã từ bốn phương của nước Mỹ cùng đổ về thành phố Denver của Colorado, thành phố của những dãy núi đá sừng sững, độc đáo như một kỳ tích của tạo hóa, thành phố của tuyết trắng dày đặc, bạt ngàn trong suốt mùa Đông băng giá, và cũng là thành phố có số đồng hương La Khê định cư nhiều nhất ở nước Mỹ.  Họ muốn tìm nhau, bởi họ muốn duy trì và tiếp tục một truyền thống hội ngộ đã có từ thành phố San Diego (ở California) trước đây và lần này cũng đã diễn ra hết sức thân tình, ấm áp, vui vẻ và sôi động vô cùng tại tư gia của vợ chồng hai cháu Hà Hùng và Phương Thảo, trưởng nữ của anh chị Phan Tế Nam (mà các anh em trong gia đình vẫn quen gọi là Sư trưởng) .

Đọc tiếp »

Cung Nguyên Hải - Thư San Diego

San Diego ngày 31 tháng 7 năm 2009.


Bạn Phạm LK thân mến,

Tôi vẫn còn nợ Bạn nhiều thứ, nợ cái tâm Bồ Tát sáng ngời của Bạn, nợ những vòng xe lăn tròn quanh làng quanh xóm mang nặng từ tâm, nợ cái niềm tin cẩn mà những người thân đã trao gởi cho Bạn và nợ cả những tình cảm dung dị mà Bạn đã dành cho những kẻ phải đi xa, nhưng tôi không có ý định trả nợ cho Bạn, bởi lẽ Bạn chẳng hề đòi nợ, mà tôi lại chẳng muốn sòng phẳng chút nào.  Để đáp lại, tôi chỉ muốn thỉnh thoảng được chia xẻ với Bạn đôi điều, chia xẻ những niềm vui, nỗi buồn, chợt đến, chợt đi trong cảnh đời thường của người xa xứ.

Đọc tiếp »